Du lịch và nụ cười châu Phi

Chia sẻ qua Facebook Chia sẻ qua Twitter
Du lịch và nụ cười châu PhiCặp vợ chồng người Anh Gridley sau khi đã đi thăm thú nhiều thắng cảnh ở vùng biển Caribê, Ấn Độ và Thái Lan, đã dừng chân tại vùng duyên hải Kololi ở Gambia và quyết định sẽ trở lại đất nước châu Phi này vào năm tới.
Gambia là một nước nhỏ, chỉ với 1,7 triệu dân, nhưng công tác tổ chức du lịch xứng đáng để cho nhiều nước “đàn anh” khác học hỏi. Ước tính trong năm nay sẽ có trên 180 ngàn du khách, phần lớn từ châu Âu, đến thăm Gambia. Du lịch đóng góp 14% GDP của cả Gambia và thu hút hơn 100 ngàn cư dân bản xứ vào ngành công nghiệp không khói này.

Theo một tài liệu do Ngân hàng Thế giới (WB) cung cấp, tại Gambia, du lịch trở thành một động lực quan trọng trong nền kinh tế, phần còn lại là nông nghiệp, chiếm trên 70% lực lượng lao động cả nước và đóng góp 1/3 GDP hằng năm. Khi lực lượng quân đội lên nắm quyền vào năm 1994, ngành du lịch Gambia tụt dốc, chủ yếu do chính phủ nhiều nước phương Tây khuyến cáo người dân của họ ngưng du lịch nước này để tránh những nguy cơ do tình hình bất ổn gây ra. Hậu quả tức khắc của những biến động lúc đó là 65% nhân viên ngành du lịch mất việc.

Ngày nay, bộ mặt Gambia đã đổi khác. Những bãi biển xinh đẹp, sự cởi mở, nụ cười thân thiện của người dân bản xứ và sự hòa đồng tôn giáo là những yếu tố cốt lõi giúp Gambia níu chân nhiều du khách phương Tây, với lời hứa hẹn quay lại vào những kỳ nghỉ tới. Theo ông Benjamin Roberts, Tổng thư ký Ủy ban Du lịch Gambia, sự phát triển mạnh của ngành du lịch nước này có phần đóng góp không nhỏ của dịch vụ khách sạn, với số khách đặt phòng trong mùa du lịch chiếm tỷ lệ 95 – 100% công suất hiện có.

Tuy nhiên, trong tổ chức du lịch, số du khách đến thăm một nước chưa phải là yếu tố quyết định, mà quan trọng hơn là số tiền mà họ chi ra trong một chuyến du lịch. Chính nụ cười của nhân viên ngành du lịch, sự thân thiện của người dân địa phương là sức mạnh cuốn hút du khách để họ hòa mình vào cộng đồng cư dân bản xứ, thực hiện các chi tiêu cần thiết cho chuyến đi thú vị của họ.

Kế hoạch của Bộ Du lịch Gambia là nâng mức đóng góp của ngành này vào tổng GDP cả nước từ 12 – 16% hiện nay lên 25% vào năm 2020. Mùa du lịch theo truyền thống hiện nay ở Gambia kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhưng trong kế hoạch phát triển 2013-2014, lần đầu tiên Gambia nới rộng mùa du lịch từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau. Ông Roberts cũng cho biết trong điều kiện hiện nay, Gambia chưa thể tổ chức những mùa du lịch kéo dài cả năm.

Một vấn đề đang đe dọa ngành du lịch Gambia nói riêng và cả châu Phi nói chung là kỹ nghệ sex tour (du lịch tình dục). Theo các dữ liệu do Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) công bố, tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em ở Gambia đang tăng cao và ngành du lịch đã đóng góp phần không nhỏ vào tệ nạn này. Sự nghèo khổ và thất nghiệp đôi khi đã khiến cho nhiều người dân trở thành đồng lõa của nạn sex tour. Họ nhắm mắt cho con họ tham gia vào các đường dây sex tour, thậm chí bán hẳn con họ cho bọn buôn người để chúng mặc sức khai thác trong ngành du lịch đầy biến tướng. Để phát triển du lịch bền vững, các nước châu Phi phải nỗ lực tiêu diệt loại hình sex tour nguy hiểm này.
 

LÊ CẨN tổng hợp/DNSGCT
Chia sẻ qua Facebook Chia sẻ qua Twitter
Các tin khác
Bài được xem nhiều nhất